Nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ trong dạy học Lịch sử lớp 10

Thứ tư - 15/02/2017 19:44
Tạp chí Giáo dục Thủ đô giới thiệu SKKN của cô giáo Nguyễn Thị Hằng, trường THPT Tân Lập, huyện Đan Phượng đoạt giải B cấp ngành với đề tài “Một số biện pháp sư phạm nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ trong dạy học Lịch sử lớp 10 chương trình chuẩn ở trường THPT”.
Nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ trong dạy học Lịch sử lớp 10

Trong dạy học Lịch sử, nhờ có phương tiện ngôn ngữ, nhất là tính biểu cảm của ngôn ngữ mà các sự kiện lịch sử được học sinh tiếp nhận cả về nội dung và tư tưởng, đồng thời có thái độ thông qua những sự kiện lịch sử ấy. Do đó, một trong những yêu cầu quan trọng của DHLS là nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ để góp phần phát triển năng lực tư duy và khả năng thực hành của học sinh.

Nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ khi thông báo sự kiện lịch sử

Thông báo là trình bày những thông tin cần thiết về sự kiện, giúp học sinh nhận thức một cách chính xác: sự kiện, niên đại, số liệu, không gian, nhân vật lịch sử tham gia trong sự kiện lịch sử đó nhằm giúp học sinh ghi nhớ bài học, hình thành khái niệm, rút ra kết luận, quy luật và bài học cho hiện tại. Bản chất của thông báo không tạo cho học sinh hình ảnh cụ thể về quá khứ, do đó nó thường khô khan không hấp dẫn học sinh, vì vậy trong giờ học không nên thông báo nhiều mà giáo viên phải biết chọn lọc sự kiện để thông báo.

Những sự kiện được thông báo phải là những sự kiện tiêu biểu trong bài học. Đoạn thông báo thường không thể hiện tính biểu cảm cao, vì vậy giáo viên cần sử dụng biện pháp tu từ để xây dựng đoạn thông báo. Tùy theo nội dung của đoạn thông báo, giáo viên nhấn mạnh các biện pháp tu từ nòng cốt như sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao hoặc cách nói mới lạ làm tăng tính biểu cảm của đoạn.

Nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ khi trình bày đoạn miêu tả

Nếu thông báo chỉ cung cấp chủ yếu những tư liệu về sự kiện, thì miêu tả tập trung trình bày những nét đặc trưng của sự vật, vì vậy ta có: Miêu tả toàn cảnh nhằm phác hoạ bức tranh trọn vẹn về đối tượng được trình bày; Miêu tả có phân tích là tập trung vào một đặc điểm chủ yếu để qua đó đi sâu vào phân tích cơ cấu bên trong của sự vật.

Trong dạy học lịch sử, miêu tả có ý nghĩa quan trọng vì rất nhiều sự kiện cần cho học sinh thấy được bản chất của nó qua những sự vật, hiện tượng bên ngoài. Để nâng cao hiệu quả của miêu tả, phương tiện miêu tả trong lời nói cần có từ ngữ biểu cảm, đây là thế mạnh đặc trưng của miêu tả sự vật - hiện tượng. Chúng ta có thể nhận thấy vấn đề này trong cách miêu tả của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người sử dụng nhiều từ láy, các thành ngữ, các biện pháp tu từ.

Ví dụ: Khi miêu tả việc hành hình theo kiểu Linsơ trong tác phẩm lịch sử của Hồ Chí Minh ta thấy Người dùng biện pháp lặp lại 2 lần, 2 nhân vật chủ yếu: “Đám đông hành hình, người da đen bị hành hình”…

Nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ khi tường thuật sự kiện lịch sử

Tường thuật là biện pháp sư phạm có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Tường thuật là cách trình bày miệng nhằm tái hiện những biến cố lịch sử quan trọng với đầy đủ tính cụ thể và gợi cảm của nó. Tường thuật là trình bày có chủ đề về một biến cố hay quá trình lịch sử, về những hoạt động của quần chúng hay một nhân vật lịch sử. Yêu cầu của tường thuật phải có tình tiết nhất định nhằm kích thích trí tưởng tượng của học sinh về hình ảnh của quá khứ. Ngôn ngữ của tường thuật phải có tính chất sinh động để diễn tả được các hoạt động của nhân vật, diễn biến của sự kiện... Khi tường thuật tình tiết phải mang tính cụ thể, chính xác của tài liệu sử dụng nhằm tạo biểu tượng chân thực.

Tường thuật có chủ đề, có mở đầu, có diễn biến, đặc biệt phát triển với tình tiết mang kịch tính cao. Người giáo viên khi tường thuật cần kết hợp với dáng đi, cử chỉ, nét mặt làm cho học sinh có cảm giác như đang được chứng kiến hiện thực lịch sử, mà ở đó sự vật đang vận động, những con người đang hoạt động, một xã hội có thực được tái hiện.

Nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ khi trình bày đoạn giải thích

Bản chất của giải thích sự kiện lịch sử là lý giải để hiểu rõ bản chất của sự kiện từ những biểu hiện bên ngoài của chúng nhằm làm cho học sinh có quan điểm khoa học về sự phát triển của xã hội, về những mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng. Tức là giúp học sinh tự trả lời được những thắc mắc: Vì sao sự kiện này lại diễn ra? Vì sao sự vật này lại tồn tại, còn sự vật khác lại mất đi? Ngôn ngữ để xây dựng đoạn giải thích là ngôn ngữ mang chiều sâu của tư duy trí tuệ, lý lẽ rõ ràng, chặt chẽ và khúc triết. Tuy nhiên, trong mỗi bài giảng, giáo viên cần lựa chọn những vấn đề cần giải thích như các sự kiện quan trọng, khái quát kiến thức sau mỗi bài, mỗi chương để làm rõ một số từ, thuật ngữ, những khái niệm mới, khó đối với học sinh. Việc giải thích phải dựa vào những tài liệu, văn kiện chính thức để đảm bảo sự hiểu biết chân thực, đúng đắn về sự kiện, nhân vật lịch sử, tránh những ý kiến chủ quan tùy tiện.

Để cho việc giải thích có hình ảnh và sinh động trong giờ học lịch sử, giáo viên cần sử dụng kèm đồ dùng trực quan, tài liệu tham khảo nhằm kích thích sự chú ý của học sinh có định hướng của giáo viên. Trong đó có hiệu quả nhất là các biện pháp sử dụng ngôn ngữ biểu cảm kèm theo thái độ, tình cảm, ngữ điệu trong bài giảng làm cho sự kiện- hiện tượng lịch sử trở nên lôgic và phát triển tư duy của học sinh giúp các em hình thành những khái niệm hoặc khái quát được những vấn đề trừu tượng. Để nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ khi tiến hành giải thích sự kiện lịch sử và đi đến khái quát một vấn đề, giáo viên có thể sử dụng các dạng câu ngắn, câu dài. Thông thường câu dài dùng để trình bày cụ thể, câu ngắn dùng để khẳng định một vấn đề mang tính chất khái quát chân lý. Ví dụ: Khi dạy về lịch sử cổ đại, trung đại, cận đại hầu hết các sự kiện đều có sử dụng từ cổ như ở Trung quốc thời phong kiến "Vua” được gọi là Thiên tử, Ở Nhật Bản gọi là Thiên hoàng. Ở Vương quốc Anh, gọi là "Vua" Anh, Việt Nam thời phong kiến trải qua nhiều triều đại phong kiến từ "Vua" Đinh, Tiền Lê đến Bảo Đại. Cho dù cách gọi có khác nhau, nhưng nội hàm của khái niệm "Vua” đều là chỉ người đứng đầu một nước phong kiến hoặc một nước quân chủ lập hiến. Khái niệm “Vua”, ngày nay đôi khi được dùng để chỉ những nhà tư bản nổi tiếng trong những ngành kinh doanh như: Vua thép, Vua dầu hỏa, Vua ôtô. Như vậy, giáo viên đã giải thích một cách hết sức tinh tế thuật ngữ "Vua”, giúp học sinh hiểu rõ và có thể sử dụng thuật ngữ này có hiệu quả, làm giàu thêm vốn ngôn ngữ của các em.

Giải thích là bước quan trọng để nắm các khái niệm, nhất là những khái niệm mang tính trừu tượng, đòi hỏi học sinh phải giải thích được những đặc trưng hay quan hệ bản chất hợp thành nội dung khái niệm. Các phương tiện ngữ pháp cần sử dụng là các loại câu mang sắc thái phong cách kiểu câu luận. Đó là kiểu câu dùng để nhấn mạnh ý nghĩa đặc trưng của sự vật. Loại câu này thường được dùng để định nghĩa các khái niệm khoa học, nghĩa là biểu thị mối quan hệ giữa từ ngữ biểu thị khái niệm với các từ ngữ biểu thị thuộc tính của khái niệm.

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 4 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây